Nguyên lý cốt lõi của nghệ thuật quân sự lấy yếu thắng mạnh

Chuyên đề: “Nguyên lý cốt lõi của nghệ thuật quân sự lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch  nhiều trong truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước  Việt Nam” . Tác giả: TS. Nguyễn Ngọc Thạch – Giám đốc Cảng vụ đường thủy nội địa khu vực III – Bộ GTVT; (Tel: 091-380-5538; Email: thach866@gmail.com; Website: http://CV3.gov.vn)

Kính thưa các đồng chí,

Xin chúc mừng 26 năm ngày truyền thống Viện Chiến Lược Quốc Phòng; Chúc các đồng chí sức khỏe, thành công.

Cho phép tôi kính cẩn nghiêng mình trước Anh Linh các chư vị Liệt sỹ, các thế hệ Tướng Lĩnh Việt nam đã anh dũng hy sinh cho độc lập, tự do, cho hòa bình, thống nhất đất nước và để lại cho chúng ta một di sản nghệ thuật quân sự độc đáo “lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều”, trong đó có Thượng Tướng, Nhà giáo nhân dân, Giáo sư – Tiến sỹ Hoàng Minh Thảo.

Kính thưa Quý vị,

Bằng suy luận thông thường: Không thể có một dân tộc với  “Đất không rộng, người không đông”lại có thể luôn là người chiến thắng trong các cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại với đối thủ hùng mạnh  như  Quân Nguyên Mông xưa kia và Đế quốc Pháp, Đế quốc Mỹ thời nay.

Một câu hỏi đặt ra: Ngoài chính nghĩa và truyền thống đánh giặc, ngoài ý trí quật cường và lòng dũng cảm, ngoài niềm tin vào  hòa bình, công lý, ngoài tinh thần đoàn kết toàn dân. v.v.. Sức mạnh gì đã giúp chúng ta luôn chiến thắng kẻ thù lớn hơn, đông hơn, trang bị hiện đại hơn gấp nhiều lần?

Nhân dịp kỷ niệm 26 năm ngày truyền thống của “Viện Chiến Lược Quốc Phòng” đồng thời ôn lại sự nghiệp của một nhà chỉ huy quân sự trí dũng song toàn, một nhà giáo, một nhà nghiên cứu chiến lược thời đại Hồ Chí Minh – Giáo sư, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, chúng tôi xin trình bày một vài suy nghĩ, hy vọng  xẽ làm phong phú thêm cơ sở khoa học khảng định sức mạnh quân sự Việt Nam là hiện hữu, khẳng định chúng ta chiến thắng kẻ thù vì chúng ta mạnh hơn, thông minh hơn, nhân văn hơn, đúng như nhà quân sự thời hậu Lê – Đại thi hào Nguyễn Trãi đã tổng kết trong “Bình Ngô đại cáo”, trong đó có câu: ”Lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy trí nhân thay cường bạo”.

Kính thưa quý vị,

Theo chúng tôi, ĐẠI NGHĨA ở đây là tinh thần lấy độc lập, tự do của tổ quốc làm trọng. Khởi nguồn của tinh thần này có lẽ cũng chỉ là những suy nghĩ giản đơn của anh nông dân áo vải: “Quê cha, đất tổ” thì ta phải giữ; “Trời của ta, đất của ta” thì ta phải bảo vệ . Mọi thứ bình dị kiểu trông trời, trông đất, trông mưa: “Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm” mà hàng năm vẫn theo đó để  nông dân trú mưa, tránh bão, vẫn theo đó mà gieo mạ, cấy lúa.v.v…Đây là một dạng suy nghĩ thuần phát của người làm nông nghiệp nương theo lẽ tự nhiên mà sinh tồn, dựa vào địa hình hiểm trở mà thắng cường địch. Sau này, khi tập tục sinh sống, sản xuất đã thành thói quen; Khi cách chiến đấu, chiến thắng kẻ thù đã thành truyền thống, tư duy thuần phát đó được nâng lên thành học thuyết quân sự, và lý luận đúc kết nền văn minh lúa nước có tên là: “Nguyên lý thuận tự nhiên”.

TRÍ NHÂN ở đây là biết nghĩ, biết mình, biết người, biết được kết quả của hành động theo suy lý thuận tự nhiên và nghịch tự nhiên của đối thủ và của chính bản thân mình sẽ như thế nào?. Từ  đó  biết đi trước thời gian, vượt lên thực tại để tạo cơ hội cho mình: “Anh hùng tạo thời thế, thời thế tạo anh hùng”; Biết tìm thời điểm để lướt qua sức mạnh của địch và tìm được vũ khí thích hợp tiêu diệt chúng. Nói cách khác Trí nhân – Là Người có trí tuệ có thể dự báo mọi tình hình và hành động quyết đoán có chủ ý.

Lịch sử văn minh lúa nước cho biết: Muốn chiến thắng cần hội tụ đủ 3 điều kiện: “Thiên thời, địa lợi, nhân hòa”; Nếu thứ nào còn thiếu thì cố gắng tạo ra nó. Từ đó tin vào bản thân mà chớp lấy thời cơ. Việc giữ lấy trời, giữ lấy đất, giữ lấy lòng người thành hay bại phần lớn là do có biết tạo thời cơ, nắm bắt thời cơ, và điều quyết định: Hành động đó có chính nghĩa hay không.

Tổng hợp tính bất bại của “Trí nhân” được đúc kết thành chiến lược giành chiến thắng trong đấu tranh sinh tồn, chiến lược chiến thắng bản thân khi lâm vào hoàn cảnh khó khăn.

“Trí nhân” có niềm tin tất thắng vì họ rất mạnh, không sợ kẻ thù; Họ dám chiến đấu, dám chiến thắng, dám hy sinh bản thân vì nghĩa lớn – Đây là biểu hiện sức mạnh vô địch của sức sống  nội tâm sau này được nâng lên chiến lược chiến thắng – Hay còn gọi là” Nguyên lý Dung thông vô ngại” với việc lấy thuận tự nhiên làm cơ sở hành động ban đầu.

Theo chúng tôi, Nguyên lý “Thuận tự nhiên”; Nguyên lý “Dung thông vô ngại” của văn minh lúa nước đồng hành với giáo lý Nhà Phật đã hiện hữu trong tâm tưởng con người Việt Nam từ xa xưa, là cội nguồn sinh ra nhân cách lớn trí dũng song toàn – Đó là nguồn gốc sức mạnh trí tuệ vô biên làm nên thế hệ đương thời trong đó có những vĩ nhân kiệt suất có sứ mạng lãnh đạo nhân dân ta chiến thắng mọi kẻ thù, chiến thắng bản thân, vượt lên số phận .v.v… – Nguyên lý này đã đi vào truyền thuyết dân gian như truyện Thánh gióng,  truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh, chuyện Tiên dung, Chử Đồng Tử v.v… Tất cả đều đi đến hồi kết: “Chân lý thuộc về chính nghĩa”; “Ta nhất định thắng vì ta có chính nghĩa”.

Về lĩnh vực quân sự ở Việt nam, “Thời thế tạo Anh hùng” có một số vị tướng với biệt tài sử dụng nghệ thuật quân sự “Lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều” mà Thượng tướng Hoàng Minh Thảo khi còn sống đã sắp xếp theo thứ tự như sau (Theo Dân Chí – Bùi Hoàng Tám):

“ Trần Hưng Đạo – Nhà chiến lược thiên tài về chiến tranh nhân dân; Lý Thường Kiệt – Với chiến lược lấy công làm thủ, đòn đánh phủ đầu; Nguyễn Huệ – Về tính thần tốc;  Ngô Quyền – Chiến đấu vì niềm kiêu hãnh dân tộc; Chủ tịch Hồ Chí Minh – Khai sinh thời đại mới cho các Tướng hiện đại: Đại tướng Võ Nguyên Giáp; Thượng tướng Lê Trọng Tấn; Thượng tướng Hoàng Văn Thái; Thượng tướng Nguyễn Hữu An..v.v…”

Nguyên lý “Dung thông vô ngại” cũng còn được diễn giải theo cách khác: “Một có trong tất cả và tất cả có trong một”, hoặc, “Vạn thù quy nhất bản, nhất bản tán vạn thù” trong ”Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm” do Hòa Thượng Thích Trí Tịnh dịch ra tiếng việt.

Về mặt học thuật, Hai nguyên lý này được cô đọng, lưu truyền tới ngày nay nhờ khẩu quyết và biểu diễn bằng hình ảnh trực quan có tên gọi là “Thái cực đồ” – Một hình vẽ, khi nhìn vào chúng ta sẽ thấy dòng chẩy của quá trình tồn tại,phát sinh, phát triển, diệt vong  theo “Nguyên lý thuận tự nhiên” của mọi vật, sự vật, hiện tượng theo chiều hướng: Hoặc Tương sinh; Hoặc Tương khắc; Hoặc Tương thừa; Hoặc Tương vũ; Hoặc phối kết hợp từ 2 chiều hướng khác nhau trở lên, nhưng đều theo quy tắc  bảo toàn và biến hóa cân đối:  “Âm – Dương tiêu trưởng” ; Nguyên lý “Dung thông vô ngại”  trong Thái cực đồ được thể hiện qua quyết sách sau của người lãnh đạo:

– Định hình chiều hướng vận hành của đối tượng nghiên cứu theo quy tắc Tiêu – Trưởng.

– Hoạch định độ lớn của Thái cực đồ bằng đường nội biện và ngoại biên.

– Hoàn thiện nội dung có giá trị thông tin tổng quan của Thái cực đồ theo “Nguyên lý thuận tự nhiên” bằng 2 chấm có mầu sắc tương phản, nhưng nằm ở 2 miền tương phản với chính màu sắc của bản thân nó, tức là tương phản với chính bản chất của nó. Điều này hàm nghĩa: “Trong Âm có Dương và trong Dương có Âm”; Tương tự như trong Triết học Mác – Lê Nin: ”Sự thống nhất giữa các mặt đối lập” trong cùng một vật, sự vật, hiện tượng.

Nắm bắt được quy trình vận hành của “Nguyên lý thuận tự nhiên” và Nguyên lý “Dung thông vô ngại” sẽ giúp chúng ta tiết kiệm nhiều thời gian của cuộc đời để nắm bắt thành công nhiều cơ hội tiến bộ cho bản thân, cũng như có thể dễ dàng thẩm thấu được nhịp thở và chiều sâu văn hóa truyền thống còn tiềm ẩn trong  nguyên nhân thắng lợi của dân tộc ta trong công cuộc dựng nước và giữ nước xưa- nay.

MỘT VÀI VÍ DỤ VỀ THÁI CỰC ĐỒ:

1/- BIỂU DIỄN CHU TRÌNH CHUYỂN HÓA THỜI TIẾT – KHÍ HẬU THEO NGUYÊN LÝ THUẬN TỰ NHIÊN TRONG THÁI CỰC ĐỒ

thai cuc do

(Ảnh Thái cực đồ trong Internet)

2/-HÌNH DÁNG THÁI CỰC ĐỐ TỔNG QUÁT

thai cuc do tong qua

        (Ảnh Thái cực đồ trong Internet)

Sau đây chúng ta sẽ thử vận dụng tư tưởng triết học truyền thống qua hình tượng Thái cực đồ để minh chứng thêm về sức mạnh trí tuệ của dân tộc chúng ta trong Trận đánh giải phóng Ban Mê Thuột ngày 10/03/1975 dưới sự chỉ huy của tư lệnh mặt trận – Tướng Hoàng Minh Thảo mở màn cho đại thắng mùa xuân 1975.

Hy vọng thế hệ trẻ hôm nay sẽ tiếp tục phát huy hơn nữa sức mạnh trí tuệ của dân tộc còn đang tiềm ẩn trong chúng ta để gìn giữ hòa bình, làm kinh tế giỏi và tự minh chứng cho mình chân lý:  Chiến thắng giặc ngoại xâm của dân tộc ta là chiến thắng của chính nghĩa được nhân lên bởi trí tuệ kiệt suất thành sức mạnh vô địch nhấn chìm mọi kẻ thù qua mọi thời đại.

TRẬN ĐÁNH BAN MÊ THUỘT

Ngày 10 -11 /03/1975

ban do mo ta tran danh ban me thuot

BẢN ĐỔ MÔ TẢ TRẬN ĐÁNH BAN MÊ THUỘT

Sự nghiệp giải phóng miền nam, thống nhất đất nước của Đảng ta là một trong những sự kiện quan trọng nổi bật trong lịch sử dựng nước và giữ nước thời đại chống chủ nghĩa thực dân kiểu cũ, kiểu mới với những tên xâm lược hùng mạnh như Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ . Sự nghiệp đó khởi đầu bằng Tuyên ngôn độc lập ngày 0 2/09/1945 và kết thúc bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, 30/ 4/1975 – Tổng hợp và sâu chuỗi tất cả các sự kiện nổi bật lại, có thể coi đó là một Thái Cực Đồ với tên gọi: Thái cực đồ “Độc lập – Thống nhất” mà Chủ Tịch Hồ Chí Minh là người hoạch định và đẩy cú hích đầu tiên cho Thái cực đồ này xoay chuyển.

Đặt tên nước, thành lập mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam .v.v.. Cùng với những trận đánh chiến lược, những hiệp định chiến lược đã tạo nên vòng Thái cực sức mạnh hiện đại của dân tộc ta xuyên suốt 40 năm qua.

Thái cực “Độc lập – Thống nhất” giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn nguyên nhân thằng lợi của nghệ thuật quân sự “Lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều” của Đảng ta, của Bác Hồ mà Thượng Tướng Hoàng Minh Thảo vinh dự là một trong những người trực tiếp tham gia và là chứng nhân lịch sử của tất cả các trận đánh, các sự kiện lịch sử trên.

Đặc biệt trong trận Ban Mê Thuột, Ông là Tổng tư lệnh mặt trận. Có thể coi trận Ban Mê Thuột tương tự như vũ khí bí mật của Thái cực “Độc lập – Thống nhất” diệt giặc Mỹ Ngụy như “Cọc Bạch Đằng” diệt giặc Nguyên Mông, “Ống Gốm” diệt giặc Minh ngày xưa của Ông cha chúng ta.

Khởi đầu của Thái cực “Độc lập – Thống nhất” là Cách mạng tháng 8/1845 thành công lập nên nước “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” bằng bản “Tuyên ngôn Độc Lập” lịch sử do Chủ Tịch Hồ Chí Minh đọc ngày 2/9/1945 tại Quảng Trường Ba Đình.

Các mốc son lịch sử khác sau đó:

  • Chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954;
  • Hiệp định Genever tháng 5/1954 khôi phục hòa bình ở Đông Dương;
  • Tổng tiến công và nổi dậy Tết mậu Thân 1968;
  • Chiến dịch phản công Đường 9 – Nam Lào năm 1971;
  • Hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh của Mỹ tại Việt nam 1973;
  • Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, mùa xuân 1975 mở màn bằng chiến thắng Ban Mê Thuột 10/3/1975.

Mỗi sự kiện thắng lợi trên nếu phân tích sẽ thấy mỗi trận có một đặc thù riêng khi dùng nguyên lý “Dung thông vô ngại”, và cho một Thái cực sức mạnh riêng, nhưng tất cả đều hướng tới mục tiêu cuối cùng là độc lập, tự do hoàn toàn  cho dân tộc – Đó chính là nội hàm của Thái cực “Độc lập – Thống nhất” thời đại Hồ Chí Minh.

Tổng quan theo tư duy Thái cực đồ chúng ta thấy: Vòng Thái cực sức mạnh Việt Nam luôn được dẫn dắt bởi các bước đầu tiên là Nguyên lý “Dung thông vô ngại”.

Đại thắng mùa xuân 1975 là kết quả của cả một quá trình chuẩn bị lâu dài, chuẩn bị chiến tranh chống đế quốc Mỹ can thiệp và xâm lược ngay từ sau hiệp định Genever 1954 được ký kết đã chia cắt nước ta thành 2 miền. Chính vì thế chúng ta không ngạc nhiên khi xuất hiện những nhà tình báo chiến lược huyền thoại sau khi chiến tranh kết thúc: Phạm Xuân Ẩn; Mười Hương .v.v..

Tư tưởng chỉ đạo của Hồ Chí Minh được thể hiện rất nhiều và bằng nhiều hình thức đi vào lòng người: Thơ chúc tết, lời hiệu triệu, lời kêu gọi,

Ví dụ: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta có thể kéo dài năm năm, mười năm, hai mươi năm hoặc lâu hơn nữa, Hà nội Hải phòng và một số thành phố khác có thể bị phá hoại, Xong nhân dân ta nhất định không sợ, Nhất định không chịu mất nước, Nhất định không chịu làm nô lệ”;

Hoặc “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua, Thắng trận tin vui khắp nước nhà, Nam bắc thi đua đánh giặc Mỹ, Tiến lên toàn thắng ắt về ta”;

Hoặc “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào; Tiến lên chiến sỹ đồng bào, Bắc nam sum họp xuân nào vui hơn”.

Đánh cho Mỹ cút thể hiện qua hiệp định Paris 1973 đã trực tiếp làm giảm sức mạnh, sức kháng cự của địch tại mặt trận Ban Mê Thuột nói riêng và toàn miền Nam nói chung xuống 50% (Lời của sỹ quan ngụy).

Đánh cho Ngụy nhào bắt đầu bằng trận thử phản ứng của Mỹ (Trận Bình long).

Trận Ban Mê Thuột là một vũ khí bí mật được Trung Ương chọn và chuẩn bị từ nhiền năm trước, từ khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp điều Tướng Hoàng Minh Thảo về nằm vùng, điều nghiên, xây dựng kế hoạch tác chiến – Từ đó mới cóquyết định chiến lược sau này: Chọn trận tiên phong cho chiến dịch Hồ Chí Minh là “Ban Mê Thuột” vì nơi đó có vị trí chiến lược quan trọng, nhưng khó phòng bị, nơi có thể hội đủ điều kiện “Thiên thời, địa lợi, nhân hòa” cho chúng ta dành thắng lợi.

Trận Ban Mê Thuột là vũ khí bí mật và vô cùng lợi hại thời chiến tranh hiện đại. Sự tài tình sáng tạo của bộ tổng tham mưu chiến dịch thể hiện ở:

1/-Chọn hướng tiến công, nghi binh địch. (Điều quân nghi binh)

2/-Khôn khéo chia cắt đội hình địch (12 mũi tấn công cùng lúc; Chặn đường cứu viện của địch; Chặn đường rút lui của địch theo QL27 gây hiệu ứng sụp đổ ý trí chiến đấu của toàn bộ quân đội địch)

3/-Tổng lực tiêu diệt sức đề kháng của địch (Tung lực lượng dự bị đúng lúc diệt đề kháng)

4/- Luôn giữ thế chủ động, điều chuyển hỏa lực địch theo ý của chúng ta.

Đó là biểu hiện của sự vận dụng sáng tạo nguyên lý “Thận tự nhiên” của Bộ tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên và Bộ tư lệnh mặt trận Ban Mê Thuột năm xưa: “Biết mình, biết người – Trăm trận trăm thắng”

Chúng ta có thể hiểu rõ hơn nghệ thuật quân sự trong trận Ban Mê Thuột qua bài viết của tác giả Nguyễn Thanh Bình, Trong đó có đoạn: “Nghi binh lừa địch, điều khiển địch theo ý định của ta cũng là một nghệ thuật nổi bật của Chiến dịch Tây Nguyên. Về lực lượng, ta đã sử dụng cả Sư đoàn 968 thực hiện nhiệm vụ này. Khi Sư đoàn 968 về đến Tây Nguyên, mặc dù đã vào dịp Tết nhưng Sư đoàn đã bắt tay ngay vào việc trinh sát địa hình, nhận bàn giao chiến trường từ Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320.

Việc cơ động lực lượng được giữ bí mật nghiêm ngặt. Sau khi nhận bàn giao chiến trường, từ đầu tháng 2/1975, Sư đoàn bắt đầu thực hiện nhiệm vụ nghi binh lừa địch:

Một trung đoàn ở bắc Kon Tum đã tiếp nhận các trận địa của Sư đoàn 10 để lại, thường xuyên duy trì các hoạt động trinh sát, bắn tỉa, pháo kích, đánh địch lấn ra ngoài như các hoạt động của Sư đoàn 10 vẫn làm. Đồng thời, đẩy mạnh các hoạt động chuẩn bị chiến trường như làm đường cơ động, tung các toán trinh sát vào thị xã Kon Tum, tăng thêm lực lượng ra phía trước, củng cố công sự, làm trận địa pháo, dùng xe vận chuyển gạo, đạn từ phía sau ra Võ Định v.v.”

Những điều này chúng ta có thể rút ra từ mưu lược được thực thi cho trận đánh, và về cơ bản không có mấy thay đổi so với việc sử dụng nguyên lý “Dung thông vô ngại” như trong trận Bạch Đằng, Chi Lăng – Xương Giang năm xưa của Ông cha chúng ta.

Xin cám ơn.

1 Response

  1. 02/08/2021

    100 % gay dating site

    Nguyên lý cốt lõi của nghệ thuật quân sự lấy yếu thắng mạnh – Máy tính phong thủy

Leave a Reply